Loading...
Hỗ trợ, phát triển, kết nối giáo dục; NP- HSA 

PHỤ HUYNH QUẢNG TRỊ SẼ BIẾT ĐƯỢC KẾT QUẢ HỌC TẬP, RÈN LUYỆN HẰNG NGÀY CỦA CON EM THÔNG QUA MẠNG INTERNET   |   Đánh giá không toàn diện: Học sinh chịu thiệt   |   Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản - Đôi điều suy nghĩ   |   GIỚI THIỆU CÁC SẢN PHẨM CỦA NHÓM EDULINK VÀ HỢP TÁC VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TIN HỌC KHÁC.   |   Phần mềm trên mạng internet   |   Vài suy nghĩ về chất lượng quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay tại Việt Nam   |   XÂY DỰNG MÔ ĐUN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TÍN CHỈ QUA MẠNG INTERNET GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHẦN MỀM BSC EMIS STUDENT TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM QUẢNG TRỊ   |   Ứng dụng CNTT trong giáo dục cần quyết liệt hơn   |   PHẦN MỀM QUẢN LÝ HỌC SINH   |   GIỚI THIỆU CÁC SẢN PHẨM CỦA NHÓM EDULINK VÀ HỢP TÁC VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TIN HỌC KHÁC.   |  
| Nhân sự | Lĩnh vực hoạt động | Sản phẩm | Hình ảnh hoạt động | Thư viện Violet |
| Tài liệu giảng dạy | Quản lý học sinh | Văn bản | Tài nguyên Edu- Media | Tin từ các báo |
| Giới thiệu | Tin tức sự kiện | Giáo dục học đường | Định hướng nghề nghiệp | Tuyển sinh - thi cử | Đào tạo bồi dưỡng | Công nghệ thông tin | Văn học nghệ thuật | Giới thiệu sản phẩm |
| Văn bản | Văn bản tỉnh | Văn bản QPPL | Văn bản sở |
| Nghe nhạc | Xem TV | RSS | Liên hệ | Quản trị site |
 
Giới Thiệu
Tin tức - Hoạt động
Thi - tuyển sinh
Giải trí
Tiện ích trên web
Thông tin cần biết
Tài liệu tham khảo
Tìm kiếm
    Từ khóa
Thống kê
   Số người online: 3
   Số lượt truy cập: 2346667
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
   Hot online: 0905609111

   Ban quản trị:

Danh ngôn - Tục ngữ
   -“Giáo dục là làm cho con người tìm thấy chính mình.” – Socrates (469–399 TCN)
   -“Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học.”
   -“Ngủ dậy muộn thi phí mất cả ngày, ở tuổi thanh niên mà không học tập thì phí mất cả cuộc đời.” (Ngạn ngữ Trung Quốc)
LIÊN KẾT NHANH

.:: Tin tức ::.
Cần hiểu tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số khi dạy học tiếng Việt

Giáo dục ngôn ngữ ở các tỉnh miền núi luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên luôn là nhiệm vụ hàng đầu của những người đang giảng dạy tại nơi đây. Đó là việc dạy học tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai cho học sinh dân tộc thiểu số đang cư trú tại dải đất này, các dân tộc như Jrai, Bahnar...

ThS. Lê Hoàng Giang
TT NC Giáo dục Phổ thông - Viện Nghiên cứu Giáo dục

Giáo dục ngôn ngữ ở các tỉnh miền núi luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên luôn là nhiệm vụ hàng đầu của những người đang giảng dạy tại nơi đây. Đó là việc dạy học tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai cho học sinh dân tộc thiểu số đang cư trú tại dải đất này, các dân tộc như Jrai, Bahnar... Mục đích của việc giáo dục ngôn ngữ này là nhằm cung cấp cho các em một công cụ giao tiếp, một phương tiện tư duy, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng, cùng sống dưới mái nhà chung Việt Nam, cùng chung tiếng nói, cùng sử dụng một ngôn ngữ, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng mới. Thế nhưng xét về mặt chất lượng, hiệu quả giáo dục ngôn ngữ hiện nay ở các tỉnh Tây Nguyên, như Gia Lai, KonTum, ĐăkLăk vẫn còn thấp. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT của học sinh dân tộc thiểu số ở các tỉnh trên trong những năm qua vẫn chưa cao, cụ thể, trường Phổ thông Dân tộc Nội Trú tỉnh Gia Lai, 2001 - 2002: 71,19%; 2002 - 2003: 62,50%; 2006 - 2007: 76,34%; 2007 - 2008: 71,32%... Đặc biệt, chất lượng bài kiểm tra, bài thi các môn học thuộc ngành khoa học xã hội nói chung, môn Tiếng Việt ở Tiểu học, môn Ngữ văn ở THCS, THPT nói riêng đều rất thấp, học sinh không đủ vốn từ vựng để hiểu các môn học khác. Nguyên nhân của tình trạng trên là năng lực ngôn ngữ, kiến thức tiếng Việt của các em còn hạn chế, việc dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc ở những tỉnh trên vẫn chưa mang lại hiệu quả mong đợi. Là những người làm công tác giáo dục, chúng ta hãy suy ngẫm về kết quả giáo dục này!

1. Học sinh Tiểu học người dân tộc trước khi đến trường.

Khác với học sinh người kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh người dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt. Thực tế cũng có số ít các em được trải qua sự chăm sóc của vườn trẻ, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như những mẫu hội thoại đơn giản mang tính bắt đầu, những kỹ năng cơ bản như nghe, nói mà trường Mầm Non đã trang bị cho các em, vì những lý do khách quan khác nhau đã không còn theo các em bước vào lớp1. Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng, người dân ở đây, cũng như các em chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước ra thế giới bên ngoài, vào môi trường giáo dục phổ thông, tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai của các em. Việc giao tiếp thông thường với thầy cô giáo đã khó khăn, và cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những kiến thức về các môn học khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các em. Đến trường, đến lớp là các em bước đến một môi trường sinh hoạt hoàn toàn xa lạ, tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước chân các em đến trường.

2. Học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số học tiếng Việt là học ngôn ngữ thứ hai.

Mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối với các em, trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ. Sự tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em là do điều kiện sử dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, là do tâm lý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ rất tự nhiên, bản năng. Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những lần hội họp, người địa phương chỉ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ. Họ ngại sử dụng tiếng Việt, có lẽ vì vốn kiến thức về tiếng Việt ở họ quá ít ỏi, cũng có lẽ vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ thường trực trong họ. Chính vì thế, mỗi lần các cán bộ xã, huyện về chủ trì một cuộc họp nào đó ở làng, bản, họ phát biểu bằng tiếng Việt rất khó khăn. Thói quen này trong sử dụng ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng vào trong đời sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi rời trường, rời lớp. Dần dà các em không thể sử dụng tiếng Việt, quên ngay những kiến thức về tiếng Việt đã học trên lớp, từ đó, đã khiến cho các em thụ động, thiếu linh hoạt khi ở môi trường giao tiếp lớn hơn, vượt khỏi môi trường cộng đồng dân cư nhỏ hẹp.

3. Mặc cảm của học sinh dân tộc thiểu số khi đến trường học tiếng Việt.

Tiếp xúc, quan sát học sinh dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên, tôi nhận thấy rằng, các em học sinh ở đây đã biết ý thức về nguồn gốc của mình. Cái nghèo luôn nhắc nhở con người sống trong cảnh khốn cùng cần hiểu sâu sắc về nguồn gốc, về điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân. Nghèo đã giúp con người ta vươn lên nhưng nghèo cũng làm cho con người luôn mặc cảm, tự ti, bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Mặc cảm số phận đã khiến con người không thể thoát khỏi những thiếu thốn vật chất, không thể vươn xa hơn không gian sống hiện tại. Những học sinh tiểu học người dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên không có sự hồn nhiên của tuổi trẻ, không chỉ có "ngày hai buổi đến trường", các em còn phải miệt mài trên nương rẫy trỉa lúa, trồng ngô,...lo cho cuộc sống vật chất của gia đình đang chật vật, thiếu thốn. Chúng tôi thật thương tâm khi nghe nhưng đồng nghiệp đang giảng dạy ở những vùng miền núi Tây Nguyên tâm sự, rằng "chúng em phải vào tận làng lùng sục các em, đưa các em đến trường."; cũng có nhiều giáo viên chia sẻ, "Em phải dùng tiền lương của mình để mua quà ăn, đồ dùng học tập cho các em, rồi mới đưa các em trở lại trường. Nhưng có lúc cũng không thành công!",... Theo tôi, cái gốc rễ của vấn đề là ở chỗ, cái nghèo truyền kiếp đã quy định trách nhiệm của các em đối với gia đình. Cái ăn từng bữa còn chưa có, chưa đủ thì học chữ để làm gì, suy nghĩ của các em và gia đình của các em là vậy! Họ không hiểu rằng, chính cái chữ sẽ giúp con người thoát khỏi cuộc sống nghèo khó hiện tại, giúp con người hoạch định tương lai. Cho nên vào thời điểm mùa màng, số lượng học sinh trên lớp học rất ít. Cũng có những hôm thầy giáo cắp cặp tới lớp, rồi quay về, tìm cách xuống bản, tới từng gia đình học sinh, giảng giải cho các em, thuyết phục gia đình các em rằng, cần phải dành thời gian cho các em học tập, bởi các em còn trong độ tuổi đến trường. Thế nhưng, hiệu quả của công việc "tuyên truyền" này không phải lúc nào cũng như ý, lắm lúc, giáo viên còn phải nhận những câu trả lời cay nghiệt của phụ huynh khiến cho họ có những giây phút nản lòng.

Một số học sinh có ý thức học tập, đến mùa màng, cũng xin phép giáo viên chủ nhiệm, nhà trường nghỉ phép vài hôm, nhưng rồi các em cũng quên trở lại trường khi mùa gặt kết thúc. Giáo viên lại phải nhọc công tìm đến tận bản, vận động các em đến trường.

Con người là chủ thể nhận thức. Nhận biết về bản thân, về mọi vật xung quanh là sự sống bản năng của con người. Người dân tộc thiểu số luôn ý thức về nguồn gốc, về điều kiện sống, hoàn cảnh sống của mình. Chính điều này đã khiến cho học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số tiếp nhận những kiến thức về tiếng Việt khó khăn, tạo rào cản ngăn cách hoạt động sống của các em với môi trường xã hội rộng lớn, làm cho các em khó tiếp xúc, hòa nhập cộng đồng.

Nhìn ra được cái hạn chế, điều tốt đẹp của bản thân là con người đã phát triển ở một mức nào đó về nhận thức. Nghĩa là con người đã biết đặt mình trong nhiều mối quan hệ trong xã hội. Ý thức là nguồn động viên cho sự vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh thực tại nhưng cũng có ý thức tạo cho con người tính mặc cảm, tự ty thân thế, số phận, làm thui chột hao mòn năng lực, tri thức bản thân. Học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên đến trường trong tâm thế "hèn mọn" đó. Các em cũng đã biết nhìn ngắm những trang phục của các bạn học sinh người Kinh, nhìn lại trang phục của mình. Ỏ những trường Nội trú, tình trạng trên ít xảy ra, nhưng đối với các trường có cả hai đối tượng học sinh, người Kinh và người dân tộc thiểu số, tình trạng trên luôn ngầm diễn ra trong các em. Nếu số lượng học sinh thiểu số nhiều hơn học sinh Kinh thì tình trạng trên ít xảy ra, còn nếu số lượng học sinh thiểu số ít hơn số lượng học sinh người Kinh thì tình trạng trên càng diễn ra nặng nề. Trong lớp chắc chắn sẽ có sự phân biệt, kỳ thị ở hai đối tượng học sinh trên. Một bộ quần áo, một đôi dép hay những phụ kiện đơn giản khác của các bạn khi đến trường cũng làm cho các em băn khoăn, suy nghĩ về nhau, so sánh lẫn nhau. Nhiều em học sinh người dân tộc thiểu số chân đất đến trường, hoặc trong trang phục cũ kỹ, hay với những đồng phục bắt buộc nhàu nát mà các em không chỉ dành cho đến trường, hay cùng với những cuốn tập bị bỏ quên ngay sau khi rời lớp. Tâm tư ấy cũng phần nào làm cho tinh thần học tiếng Việt của các em học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số bị suy giảm.

Như đã phân tích ở trên, chính điều kiện sống như thế đã không tạo cho các em một môi trường học tập, một góc học tập cá nhân, lại càng không thể xây dựng trong các em ý thức học tập, rèn luyện. Vốn kiến thức về tiếng Việt ở các em hạn chế, ít ỏi là điều hiển nhiên. Chính vì thế, các em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ phải phát biểu xây dựng bài trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoài giờ học, đặc biệt là các em rất khó tiếp thu bài ở những môn học khác. Điều này đồng nghĩa với việc kiềm hãm sự phát triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân thiện! Học sinh đã bắt đầu lo lắng cho mỗi giờ đến lớp, "sợ" phải đến trường. Học tập lúc này là công việc quá khó khăn đối với các em.

Đối với người dân tộc Tây Nguyên, không gian sống của họ rất đặc trưng, không có ranh giới giữa không gian sinh hoạt gia đình và đương nhiên sẽ không gian sống cá nhân. Đây chính là đặc trưng văn hóa của người dân tộc Tây Nguyên. Không gian sống đặc thù này của người Tây Nguyên khắc sâu trong các em về truyền thống văn hóa, về cội nguồn. Chúng ta nhận biết không gian sống đặc biệt ấy qua kiến trúc nhà ở của họ, một không gian chung cho tất cả những người trong gia đình. Chính vì vậy, việc tạo một không gian học tập cho học sinh là điều không thể. Hoạt động sống này đã không tạo điều kiện học tập cho các em, mà còn làm cho chất lượng học tập của các em ngày càng giảm sút.

Đối với các em, tự học là chủ yếu, bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân trong gia đình hoặc không có khả năng hướng dẫn, hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn đốc nhắc nhở quản lý, hay do hoàn cảnh sống khó khăn mà gia đình đã không chú trọng tới việc học của con, em mình. Điều này cho thấy đa số các em không được nằm trên một cái nền học vấn nhất định nào đó của gia đình. Việc học tập của các em phải nhờ đến sự tận tâm của giáo viên, nhờ vào kế hoạch giáo dục của nhà trường. Cho nên ý thức học tập là đặc tính rất cần được chúng ta xây dựng cho các em.

4. Chế độ xã hội

Hiện nay, xã hội vẫn chưa có sự quan tâm sâu sát đến điều kiện học tập của học sinh dân tộc thiểu số. Nhà nước ta chỉ chú ý đến cơ sở vật chất của Trường học, chứ chưa chú trọng đến đời sống của học sinh một cách đúng mức. Kinh phí hỗ trợ học sinh nghèo vẫn chưa đến kịp thời, chẳng hạn như, kinh phí hỗ trợ học sinh nghèo ở tỉnh Gia Lai năm học 2008 - 2009 đến nay (15/ 07/ 2010) vẫn tắc nghẽn, "chưa về được". Sự thiếu quan tâm này của các cấp chính quyền địa phương đã gieo trong các em tâm lý chán nản, gây trong phụ huynh tâm lý nghi ngờ. Việc nhiều cán bộ xã đã ăn bớt tiền hỗ trợ dân nghèo ăn tết hằng năm đã bị dư luận xã hội lên án. Hiện tượng tham ô trên xảy ra ở khắp các xã vùng khó trên cả nước đã chứng minh rằng, Nhà nước ta nghĩ, lo cho dân chỉ được một bước, nên đời sống của những người dân ở những vùng khó khăn vẫn chưa thể an toàn được, vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh miền núi vẫn chưa thực hiện. Những tồn tại trên đã gây mất niềm tin trong lòng dân đối với các cấp chính quyền, ở trẻ đối với trường, lớp. Cái đói, kiếp nghèo và cả bọn "địa chủ" thời nay luôn rình rập, đeo bám họ thì làm sao tất cả họ đều có suy nghĩ là cần cho con đến trường.

5 Về phía giáo viên

Đa số giáo viên người Kinh ở nơi khác đến giảng dạy ở các tỉnh Tây Nguyên đều không biết ngôn ngữ Dân tộc, nếu biết thì cũng chỉ dừng ở mức độ rất ít nên họ không thể so sánh, đối chiếu, liên hệ khi gặp những tình huống cần thiết trong dạy học tiếng Việt cho đối tượng học sinh đặc biệt này. Mặt khác, về phong tục tập quán, họ lại càng không có điều kiện tìm hiểu, cho nên họ khó có thể tiếp cận với phụ huynh, gia đình các em, khó có thể tiếp xúc gần gũi, rút ngắn khoảng cách, xóa ranh giới không cần thiết giữa thầy và trò, để dạy tiếng Việt hiệu quả.

Dạy học cho người dân tộc thiểu số phải do chính giáo viên người địa phương đảm nhiệm mới mang lại hiệu quả cao được. Nhưng ngặt nỗi, trình độ chuyên môn của giáo viên địa phương chưa được chuẩn, đa số giáo viên địa phương ở đây chỉ trải qua những lớp đào tạo ngắn hạn, rồi bù vào đó là tấm bằng Đại học Từ Xa, hoặc nhà trường Sư phạm phải tạo điều kiện ra trường cho họ để đáp ứng nhu cầu về giáo viên của địa phương ở những năm trước đây. Tồn tại ở những trường Tiểu học trên địa bàn Tây Nguyên là một số giáo viên trình độ sơ cấp (họ chỉ mới học hết lớp 5, rồi chính quyền địa phương cho đi học 3 tháng nghiệp vụ, rồi họ lên bục giảng làm thầy), nên công việc giảng dạy của họ khó mang lại được hiệu quả mong muốn. Bản thân họ cũng chưa nắm vững những kiến thức về tiếng Việt nên họ truyền tải những kiến thức này đến cho học sinh rất khó khăn. Như vậy, hiệu quả dạy học của giáo viên người dân tộc là khó có thể!

Quan tâm đến việc học tập của học sinh, đặc biệt lại là học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số cũng không có được mấy người trong số tất cả những người đang trên bục giảng ở vùng khó khăn. Và trước tâm thế đến trường của học sinh như vậy, thiết nghĩ, giảng dạy cho học sinh ở những vùng khó, chúng ta cần hiểu được những vấn đề về tâm lý của học sinh, về điều kiện, hoàn cảnh sống của gia đình các em để tìm ra những biện pháp giáo dục, dạy học các em hiệu quả hơn, đưa các em đến với ánh sáng của tri thức. Giáo viên cũng cần tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, học ngôn ngữ địa phương, thâm nhập đời sống văn hóa cộng đồng, đặc biệt là hằng năm, các sở Giáo dục - Đào tạo, phòng Giáo dục cần có chương trình, kế hoạch bồi dưỡng giáo viên người dân tộc dài ngày và thường xuyên hơn để việc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số hiệu quả. Một điều cuối cùng là, giáo viên cần giúp cho học sinh dân tộc thiểu số hiểu tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông dùng chung cho các dân tộc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Trí Dõi, Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía Bắc Việt Nam. NXB ĐHQG Hà Nội 2004.

2. Trần Trí Dõi và Nguyễn Văn Thiện (2001), Tính thực tiễn trong chính sách giáo dục ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta đối với vùng dân tộc thiểu số, Ngôn ngữ và đời sống, Số 10(72)/ 2001.

3. Hoàng Văn Hành (1994), Mấy vấn đề về giáo dục ngôn ngữ và phát triển văn hóa ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số của Việt Nam hiện nay, Ngôn ngữ, Số 3.

4. Nguyễn quang Uẩn, Tâm lý học đại cương, NXB ĐHQG, HN, 1998

 

Tin xem nhiều nhất
DANH MỤC THƯ VIỆN
QLHS 25_04_2014
QLHS 13_01_2014
Gửi phiên bản QLHS ngày 10_01_2014
QLHS_Suadoi_bieuHSG
Bộ cài đặt QLHS mới
INF 2013
QLHS 28_05_2013
QLHS 26_05_2013
Bộ cài đặt QLHS ngày 12_01_2013
QLHS 10_01_2013
LIÊN KẾT NHANH

Bản quyền thuộc Nhóm Edulink
Thiết kế- xây dựng: Nguyễn Phong - Hồ Sỹ Anh, Tel:0905609111 - 0903507392 -0935205737
Email: admin@edulink.edu.vn