Loading...
Hỗ trợ, phát triển, kết nối giáo dục; NP- HSA 

PHỤ HUYNH QUẢNG TRỊ SẼ BIẾT ĐƯỢC KẾT QUẢ HỌC TẬP, RÈN LUYỆN HẰNG NGÀY CỦA CON EM THÔNG QUA MẠNG INTERNET   |   Đánh giá không toàn diện: Học sinh chịu thiệt   |   Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản - Đôi điều suy nghĩ   |   GIỚI THIỆU CÁC SẢN PHẨM CỦA NHÓM EDULINK VÀ HỢP TÁC VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TIN HỌC KHÁC.   |   Phần mềm trên mạng internet   |   Vài suy nghĩ về chất lượng quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay tại Việt Nam   |   XÂY DỰNG MÔ ĐUN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TÍN CHỈ QUA MẠNG INTERNET GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHẦN MỀM BSC EMIS STUDENT TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM QUẢNG TRỊ   |   Ứng dụng CNTT trong giáo dục cần quyết liệt hơn   |   PHẦN MỀM QUẢN LÝ HỌC SINH   |   GIỚI THIỆU CÁC SẢN PHẨM CỦA NHÓM EDULINK VÀ HỢP TÁC VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TIN HỌC KHÁC.   |  
| Nhân sự | Lĩnh vực hoạt động | Sản phẩm | Hình ảnh hoạt động | Thư viện Violet |
| Tài liệu giảng dạy | Quản lý học sinh | Văn bản | Tài nguyên Edu- Media | Tin từ các báo |
| Giới thiệu | Tin tức sự kiện | Giáo dục học đường | Định hướng nghề nghiệp | Tuyển sinh - thi cử | Đào tạo bồi dưỡng | Công nghệ thông tin | Văn học nghệ thuật | Giới thiệu sản phẩm |
| Văn bản | Văn bản tỉnh | Văn bản QPPL | Văn bản sở |
| Nghe nhạc | Xem TV | RSS | Liên hệ | Quản trị site |
 
Giới Thiệu
Tin tức - Hoạt động
Thi - tuyển sinh
Giải trí
Tiện ích trên web
Thông tin cần biết
Tài liệu tham khảo
Tìm kiếm
    Từ khóa
Thống kê
   Số người online: 6
   Số lượt truy cập: 2340504
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
   Hot online: 0905609111

   Ban quản trị:

Danh ngôn - Tục ngữ
   -“Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc.” (Ngạn ngữ Gruzia)
   -“Học thầy, học bạn, vô vạn phong lưu.” (Tục ngữ dân tộc Thái–Việt Nam)
   -“Tri thức là sức mạnh” [F.Bacon]
LIÊN KẾT NHANH

.:: Tin tức ::.
GIẢI PHÁP NÀO ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC QUẢNG TRỊ

Những thành tựu mà Giáo dục Quảng Trị đạt được sau 20 năm lập lại tỉnh vô cùng to lớn, tuy nhiên ngành giáo dục vẫn còn nhiều bất cập và giải pháp nào để nâng cao chất lượng cho GD Quảng Trị là nội dung bài viết của Ths Hồ Sỹ Anh. Edulink trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

Vượt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, hơn 20 năm sau ngày lập lại tỉnh, Giáo dục Quảng Trị đã phát triển vượt bậc cả về quy mô cũng như loại hình trường lớp, đáp ứng nhu cầu học tập của con em và các tầng lớp nhân dân. Số lượng học sinh đến trường ngày càng nhiều và chất lượng ngày càng được nâng cao. Là một tỉnh có thu nhập GDP thấp, nhưng giáo dục phổ thông Quảng Trị luôn  đứng ở vị trí trên trung bình của cả nước, cao hơn nhiều tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế phát triển hơn.

Có được thành tích trên không chỉ là nỗ lực của Ngành Giáo dục tỉnh nhà, mà đó là kết quả của truyền thống hiếu học, kết quả của sự chăm lo, đầu tư của toàn xã hội cho giáo dục.  Trong bài viết này, chúng tôi xin nêu lên: Những thành tựu, những bất cập và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Quảng Trị.

I. Những thành tựu của Giáo dục Quảng Trị sau hơn 20 năm lập lại tỉnh.

1.    Quy mô, loại hình trường lớp không ngừng phát triển, đội ngũ cán bộ, giáo viên không ngừng lớn mạnh, đáp ứng nhu cầu học tập của nhiều tầng lớp trong xã hội

Từ xuất phát điểm một tỉnh chỉ có 3 ngôi trường kiên cố, cao tầng ngày đầu tái lập tỉnh; quy mô, mạng lưới trường, lớp học không đáp ứng được nhu cầu học tập của con em và các tầng lớp nhân dân; đội ngũ cán bộ (CB), giáo viên (GV) vừa thiếu lại vừa yếu, đến nay, mạng lưới trường lớp được quy hoạch phát triển khá hợp lý với đầy đủ các ngành học, bậc học.

Đến năm 2010, toàn ngành có 157 trường Mầm non, 162 trường Tiểu học, 111 trường THCS, 17 trường cấp 1-2, 32 trường THPT, 10 trung tâm GDTX, 9 trung tâm KTTH-HN, 1 trường CĐSP, 4 trường Trung cấp chuyên nghiệp và Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị, 130 trung tâm học tập cộng đồng ở các phường, xã, thị trấn.. Đặc biệt là mạng lưới các trường tiểu học, THCS có ở tất cả các xã, phường, thị trấn trong tỉnh, trường THPT với bình quân gần 4 trường/huyện, đáp ứng nhu cầu học tập của con em từ miền núi đến đồng bằng. 

Phong trào thi đua xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, xây dựng trường chuẩn quốc gia đạt được những kết quả đáng tự hào. Tỉ lệ trường cao tầng, kiên cố trong toàn tỉnh đạt 73%. Tỉ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia ở các bậc học khá cao: Mầm non 41 trường (35%), Tiểu học 122 trường (75%), THCS 39 trường (30%) và THPT 3 trường (10%). Hệ thống phòng thực hành, thí nghiệm được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, trong đó có 100% trường THPT, trường THCS có phòng máy vi tính; hầu hết các trường Tiểu học, Mầm non trang bị máy tính phục vụ công tác dạy học và  quản lý.

chuyenLequydon.JPG 

Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, nơi đào tạo nhân tài cho con em Quảng Trị

Về số lượng học sinh, đầu năm học 2010-2011, toàn ngành đã có 25.306 trẻ mẫu giáo, mầm non,  56.426 học sinh tiểu học,  46.960 học sinh THCS và 34.264 học sinh THPT và BTTHPT. Nếu như năm học 1989-1990, có 1100 học sinh dự thi tốt nghiệp THPT & BTTHPT,  thì đến năm học 2009-2010 có 11.312 học sinh dự thi (tăng 10 lần). Nếu tính cả học sinh học ĐH, CĐ, trung cấp thì cứ 4 người dân có 1 người đi học.

Đội ngũ CB, GV không ngừng được bổ sung cả về số lượng và chất lượng. Nếu ngày đầu lập lại tỉnh chỉ có có 5.374 CB, GV thì đến năm 2010, toàn tình có gần 12.777 (tăng hơn 7000 người). Về chất lượng đội ngũ, tỷ lệ GV đạt chuẩn và trên chuẩn cao ở tất cả các cấp học, bậc học:  Mầm non đạt chuẩn 97,7%, trong đó trên chuẩn: 44,6%; Tiểu học đạt chuẩn 97,76%, trong đó trên chuẩn: 56,8%; THCS đạt chuẩn 97,76%, trong đó trên chuẩn: 49,8%; THPT đạt chuẩn 99,8%, trong đó trên chuẩn: 4,52%.  Toàn ngành  có 2 tiến sĩ, 114 thạc sĩ. 100% CB quản lý đạt chuẩn và trên chuẩn.

Từ phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt”, phong trào xây dựng nhà trường “Dân chủ - Kỷ cương – Tình thương - Trách nhiệm”, phong trào “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” đã xuất hiện nhiều tấm gương nhà giáo tiêu biểu, trong đó có 1 nhà giáo được Nhà nước phong tăng danh hiệu Anh hùng lao động, 1 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân và 39 nhà giáo được phong tăng Nhà giáo ưu tú. Nhiều thầy, cô giáo tâm huyết với nghề, với sự nghiệp “trồng người” cho quê hương, đang ngày đêm bám lớp, bám trường, thắp sáng và khơi dậy truyền thống hiếu học, cần cù, sáng tạo cho con em Quảng Trị.

2.    Về chất lượng giáo dục(CLGD), đặc biệt là GD phổ thông được nâng cao

 Song song với việc mở rộng quy mô trường, lớp, đáp ứng nhu cầu học tập của con em, ngành giáo dục Quảng Trị cũng đã đề ra nhiều giải pháp nâng cao chất lượng. Các giải pháp mang lại hiệu quả cao,  như:  giải pháp chọn chủ đề cho từng năm học, giải pháp nâng cao chất lượng đại trà tạo nền cho chất lượng mũi nhọn, nâng cao chất lượng mũi nhọn để kéo chất lượng đại trà; giải pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GV, cán bộ quản lý;  triển khai đổi mới phương pháp dạy và học; giải pháp GV giỏi ở các trường thuận lợi tăng cường cho các trường vùng khó.v.v.

Chính nhờ những giải pháp trên mà CLGD từng bước được nâng lên. Năm 2007,  2008, trong khi nhiều tỉnh, thành do tác động của cuộc vận động “hai không”, tỷ lệ tốt nghiệp từ 99% (năm 2006) rơi xuống dưới 50%, thì Quảng Trị có tỷ lệ tốt nghiệp (đợt 1) đạt từ 72-76%, đến năm 2009 tỉ lệ đỗ tốt nghiệp tăng lên 82,77%, năm 2010 tỷ lệ tốt nghiệp đạt 96%.  Trong hơn 20 năm qua, đã có hàng chục ngàn em đạt giải học sinh giỏi (HSG) cấp tỉnh ở cả 3 cấp: tiểu học, THCS và THPT. Số HSG quốc gia lớp 12 từ năm 2001-2010 là 269 em. Nhiều học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi giải Toán qua mạng Internet, trên máy tính Casio, thi Olympic Toán tuổi thơ, thi điền kinh khu vực và quốc tế… Tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trường ĐH, CĐ cao (trên 30% so với học sinh tốt nghiệp THPT). Một số em là thủ khoa ở các trường đại học, tiêu biểu là em Võ Thị Mai Hương, học sinh trường chuyên Lê Quý Đôn, năm 2009, thủ khoa trường ĐH Ngoại thương Hà Nội với tổng điểm 30/30. Năm 2010, Quảng Trị xếp thứ 27/63 tỉnh trong kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ, cao hơn nhiều tỉnh, thành có kinh tế phát triển hơn như: Quảng Bình: 48/63, Khánh Hòa 33/63, TP Cần Thơ 34/63… Bên cạnh thành tích chung, một số địa phương, trường học như thị xã Quảng Trị, thành phố Đông Hà, huyện Hải Lăng, trường Chuyên Lê Quý Đôn, THPT thị xã Quảng Trị, THPT Đông Hà, Vĩnh Linh, Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, các trường THCS: Thị trấn Hải Lăng, Hải Phú (Hải Lăng), Thành Cổ (TX Quảng Trị), Trần Hưng Đạo, Phan Đình Phùng, Nguyễn Trãi (Đông Hà), Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn (Vĩnh Linh), Trần Hưng Đạo (Cam Lộ), Triệu Đông (Triệu Phong) trở thành những điểm sáng về chất lượng giáo dục. Trường Chuyên Lê Quý Đôn và trường THPT TX Quảng Trị lọt vào top 200 trường THPT chất lượng cao của toàn quốc.

 

3. Về công tác phổ cập giáo dục, xây dựng xã hội học tập

Một trong những thành công lớn mà ngành giáo dục và đào tạo tỉnh đạt được sau 20 năm tái lập tỉnh là xây dựng được phong trào xã hội học tập, đặc biệt là đối với giáo dục vùng khó. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ được tỉnh Quảng Trị hoàn thành năm 1996, tỉnh thứ 3 của miền Nam đạt kết quả này.

Ngành Giáo dục xây dựng chương trình hành động: “Một nhà trường hai nhiệm vụ chính trị”, tham mưu cho Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục THCS tỉnh và hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện. Đến tháng 12/2005, tỉnh Quảng Trị hoàn thành phổ cập giáo dục bậc THCS và tháng 10/2006 hoàn tất công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, tạo tiền đề cho công tác phổ cập giáo dục bậc Trung học trong thời gian tới. Hàng trăm trung tâm học tập cộng đồng được xây dựng và đi vào hoạt động, đáp ứng được nhu cầu tập huấn, phổ biến kiến thức về khoa học kỹ thuật, cũng như pháp luật cho người dân.

     4. Về ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý

Là một tỉnh nghèo,  nhưng không cam chịu tụt hậu,  Sở GD&ĐT đã có bước đột phá bằng quyết định thành lập Trung tâm tin học năm 1991 - đặt viên gạch đầu tiên cho CNTT của tỉnh nhà. Với số máy tính ít ỏi, đội ngũ cán bộ tin học còn hạn chế,  nhưng cũng đã có những đóng góp nhất định cho ngành và cho tỉnh trong việc xây dựng phần mềm Quản lý thi, quản lý hồ sơ liệt sĩ Quảng Trị, bồi dưỡng tin học cho cán bộ và nhân dân, bồi dưỡng HSG và nhiều em đạt giải  quốc gia về tin học giai đoạn 1991-1995.

Nhiều đề tài khoa học về ứng dụng CNTT đã được nghiên cứu và triển khai áp dụng, mang lại hiệu quả cao. Đến nay, gần 95% CB, GV được học bồi dưỡng về ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý.

Quảng Trị là một trong những tỉnh đầu tiên của cả nước xây dựng giải pháp tổng thể, đồng bộ về quản lý trường học (QLTH). Từng bước triển khai mô hình Trường học điện tử, đến nay đã có trên 40 trường áp dụng phần mềm QLTH trực tuyến,  4 huyện áp dụng phần mềm quản lý phổ cập trực tuyến.  Các phần mềm do Sở tự xây dựng đã mang lại hiệu quả cao cho công tác quản lý, đồng thời tiết kiệm một nguồn ngân sách khá lớn (một số tỉnh phải bỏ ra hàng tỷ đồng để mua phần mềm QLTH). Sở GD&ĐT phối hợp với Viettel trong việc kết nối Mạng giáo dục, phối hợp với VNPT  trong việc triển khai gói Internet ưu đãi cho giáo viên.  Cho đến nay toàn ngành đã có trên 4500 máy vi tính, nhiều thiết bị dạy học hiện đại và 100% cơ sở giáo dục được kết nối Internet tốc độ cao.

II. Những bất cập của Giáo dục Quảng Trị hiện nay.

Những thành tựu mà ngành Giáo dục Quảng Trị đạt được ở trên chính là tiền đề, là điều kiện quan trọng để phát triển trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, giáo dục tỉnh nhà cũng đang  tiềm ẩn nhiều bất cập, đó là:

  1. Chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các vùng, miền.

Trên cơ sở dữ liệu về tốt nghiệp THCS (2007), tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng (2010), chúng tôi tổng hợp, thống kê bảng sau:

Huyện, Thị, TP

Số HS TN THCS

(2007)

Số HS

TN THPT

(2010)

Tỷ lệ TNTHPT /TNTHCS

Số DT ĐHCĐ

(2010)

Số trên 27 điểm

Số trên 24 điểm

Số trên 21 điểm

Số trên 12 điểm

Tỷ lệ số >=12/Số TN THCS

TP Đông Hà

1886

1338

70.94

1278

3

18

76

609

32.29

TX Q.Trị

777

566

72.84

499

3

9

39

240

30.89

Triệu Phong

2723

1734

63.68

1561

1

12

71

705

25.89

Hải  Lăng

2465

1518

61.58

1331

 

10

67

583

23.65

Cam Lộ

1296

829

63.97

694

 

10

31

275

21.22

Vĩnh Linh

2071

1315

63.50

998

 

2

32

405

19.56

Gio Linh

2032

1181

58.12

994

 

3

28

369

18.16

Hướng Hóa

1204

671

55.73

539

 

1

13

172

14.29

Đakrông

685

282

41.17

160

 

 

3

37

5.40

CỘNG

15139

9434

62.32

8054

7

65

360

3395

22.43

Qua bảng số liệu này, chúng ta thấy chất lượng học sinh không đồng đều giữa các vùng. Thành phố Đông Hà, Thị xã Quảng Trị, huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ cao hơn 4 huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Hướng Hóa, Đakrông. Trong đó, huyện Đakrông tốt nghiệp THPT với tỷ lệ 41,17% và đỗ vào ĐH, CĐ đạt 5.4% so với học sinh tốt nghiệp THCS. Học sinh đạt điểm cao (từ 24 điểm trở lên ở các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Hướng Hóa, Đakrông còn ít).

Các trường THPT trên địa bàn Đông Hà, Quảng Trị, Triệu Phong, Hải Lăng có quy mô và chất lượng đồng đều,  có thể cạnh tranh về chất lượng với nhau, còn Gio Linh, Vĩnh Linh, Hướng Hóa, chất lượng giữa các trường chênh lệch nhau quá lớn, không có khả năng cạnh tranh, làm hạn chế động lực thúc đẩy nâng cao  chất lượng.

Chỉ tiêu tuyển sinh THPT một số vùng lớn dẫn đến tuyển cả những học sinh yếu, kém vào học THPT. Chẳng hạn, trường THPT Cam Lộ có học sinh thi Toán, Văn dưới 2 điểm vẫn trúng tuyển. Chất lượng đầu vào thấp là một trở lực lớn cho các trường THPT.

  1. Chất lượng môn ngoại ngữ của học sinh Quảng Trị còn thấp

Chất lượng ngoại ngữ của học sinh Quảng Trị còn thấp thể hiện ở các khía cạnh sau: Thứ nhất, Quảng trị chỉ học 1 ngoại ngữ duy nhất (tiếng Anh), trong khi đó nhiều tỉnh, thành phố học từ 2 đến 3 ngoại ngữ. Thứ hai, điểm thi môn tiếng Anh thấp hơn các môn học khác trong 6 môn thi tốt nghiệp. Thứ ba, tỷ lệ học sinh khi khối D trong các kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ thấp, năm 2009,  Quảng Trị có 8% học sinh dự thi khối D, trong khi đó các tỉnh khác như Thừa Thiên Huế: 17%, Tiền Giang 15%, Bà Rịa Vũng tàu (21%) và Tp Hồ Chí Minh (23%). Chất lượng ngoại ngữ Quảng Trị thấp do nhiều nguyên nhân, trong đó có nhận thức của học sinh và phụ huynh cho rằng ngoại ngữ chưa cần, vào đại học rồi mới học ngoại ngữ cũng chưa muộn, trước mắt cần tập trung vào các môn thi đại học. Phong trào học ngoại ngữ của xã hội những năm gần đây lắng xuống. Nếu như sau ngày lập tỉnh, cán bộ, thanh niên, học sinh đua nhau học ngoại ngữ trình độ A, B, C , thì hiện nay đa số cán bộ, học viên tại chức, sinh viên ra trường chuẩn bị xin việc làm… đua nhau dự thi để lấy chứng chỉ. Không học, mà chỉ cần thi để có chứng chỉ ngoại ngữ, vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến phong trào học ngoại ngữ của xã hội mà còn ảnh hưởng đến việc học ngoại ngữ ở nhà trường.

  1. Ngành giáo dục chưa có giải pháp mạnh đối với học sinh yếu, kém..

Một thực tế hiện nay không riêng gì Quảng Trị mà ở nhiều tỉnh,  thành phố trong cả nước, đó là học sinh có sự phân hóa mạnh. Bên cạnh một số học sinh khá, giỏi, thì một bộ phận không nhỏ học sinh yếu,  kém (kỳ thi tuyển sinh THPT tỉnh Quảng Trị năm học 2007-2008, môn Toán có 150 điểm 10 nhưng đã có tới 547 điểm 0). Những học sinh này chủ yếu sống ở các vùng khó khăn, đời sống thấp, một số học sinh ở thành phố, thị xã do ảnh hưởng của trò chơi điện tử, tệ nạn xã hội, mà dẫn đến học yếu, nguy cơ bỏ học cao.

Sở đã chỉ đạo các trường tăng cường phụ đạo học sinh yếu, kém, tuy nhiên vẫn chưa có giải pháp mạnh và hiệu quả. Hằng năm, có hàng chục học sinh yếu, kém, cá biệt của Quảng Trị phải vào học ở các trường dân lập Tp Hồ Chí Minh. Một số tỉnh, thành đã đưa ra giải pháp tác động mạnh cho vấn đề này, như Tp Đà Nẵng tập hợp 300 em học sinh cá biệt, yếu kém về học tập và đạo đức thăm trung tâm giáo dục lao động của thành phố, Tp Hà Nội tổ chức cho những em đua xe thăm khoa cấp cứu ở bệnh viện để chứng kiến cảnh đau đớn do tai nạn, Tp Hồ Chí Minh chủ trương cho các trường dân lập, thu hút các học sinh ham chơi, nhác học vào học nội trú.  Một số trường tư thục Tp Hồ Chí Minh đã có giải pháp tốt, kết quả tỷ lệ tốt nghiệp THPT hằng năm đạt 100% và trúng tuyển vào ĐH, CĐ gần 40%.

Hiện nay, một số địa phương trong tỉnh có tỷ lệ bỏ học cao, chủ yếu ở cấp THPT,  xin nêu một trường hợp cụ thể như sau: xã Hải Xuân (Hải Lăng) có 135 em bỏ học ở lứa tuổi 15-21. Đây là một khó khăn không chỉ cho công tác phổ cập giáo dục bậc trung học mà còn làm giảm chất lượng nguồn nhân lực Quảng Trị. Trao đổi với chúng tôi, một số phụ huynh cho biết  có 3 nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học:

Thứ nhất, do các em học tập yếu, hỏng kiến thức cơ bản,

Thứ hai, do học bán công nên đóng góp nhiều, gia đình khó khăn không đủ tiền.

Thứ ba, tỷ lệ tốt nghiệp một số trường THPT thấp, nên một số em đi học nhưng kết quả không tốt nghiệp, vì vậy giải pháp đi học nghề sớm vẫn hiệu quả hơn.

  1. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT và  đỗ đại học, cao đẳng khá cao, song chưa tạo nên sức bật lớn, xứng đáng với tiềm năng.

Trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2010,  cả  tỉnh  có 7 học sinh trên 27 điểm (trong đó có 2 em học trường Quốc học Huế).  Trong khí đó trường THPT Phan Bội Châu - Nghệ An (32 em 27 điểm trở lên), Chuyên Đại học Vinh (15 em 27 điểm).  Sau 20 năm tách tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Bình và Thừa Thiên Huế có học sinh đạt giải quốc tế và vô địch cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”, nhưng Quảng Trị vẫn chưa có, đồng thời học sinh đạt giải quốc gia của  Quảng Bình, Thừa Thiên Huế cao hơn Quảng Trị.

Qua đó chúng ta thấy sự tác động của ngành giáo dục, của gia đình đến khả năng tự học và ý chí vươn lên của học sinh Quảng Trị chưa cao. Theo nghiên cứu mới đây của một số nhà giáo dục thì những em có điểm thi đại học từ 27 điểm trở lên là những em có ý chí tự học rất cao. Các trường cần tác động, KHUYẾN KHÍCH tính tự học, độc lập, sáng tạo của học sinh. Theo GS Viện sĩ Nguyễn cảnh Toàn thì “Phát huy  nội lực người học quyết định chất lượng học tập”. Theo John Hattie (nhà giáo dục Australia), đã đưa ra kết quả nghiên cứu (2003) về thành tích học tập của học sinh do chính học sinh (50%), giáo viên (30%), nhà trường (5-10%), gia đình (5-10%), bạn bè (5-10%).

III. Đề xuất giài pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông

Trên cơ sở khẳng định thành tích đạt được, phân tích những bất cập hiện nay của giáo dục Quảng Trị, chúng tôi xin đề xuất thêm một số giải pháp sau.

Thứ nhất, chú trọng đầu tư nguồn lực nâng cao chất lượng cho các trường khó khăn, nhằm nâng cao chất lượng đại trà.

Sở GD&ĐT cần chú trọng đầu tư cho các trung tâm GDTX, các trường bán công nay chuyển qua công lập tự chủ cả về cơ sở vật chất và đội ngũ, bởi vì những cơ sở giáo dục này chủ yếu thu hút các học sinh học tập yếu, kém. Để hạn chế tình trạng bỏ học như hiện nay, cần giảm sự đóng góp của phụ huynh đối với các cơ sở giáo dục này, do đa số học sinh yếu là con em người dân lao động, đời sống thấp. Triển khai thí điểm học 2 buổi/ngày đối với trường THCS, THPT theo chủ trương của Bộ, nhằm tăng cường bồi dưỡng kiến thức, phụ đạo cho học sinh yếu, kém.

Tỉnh cần tạo điều kiện cho trường tư thục hoạt động để thu hút đối tượng học sinh yếu, kém, học sinh cá biệt vào học như mô hình các trường tư thục thành phố Hồ Chí Minh. Mặt khác, giảm chỉ tiêu tuyển sinh một số trường như Gio Linh, Cam Lộ để nâng cao điểm chuẩn, làm động lực kéo chất lượng các trường THCS lên. Cần có giải pháp mạnh để phấn đấu trường THPT Đông Hà, THPT Vĩnh Linh lọt vào top 200 trường THPT chất lượng cao của cả nước.

Thứ hai, về dạy và học ngoại ngữ

Triển khai thí điểm cho một số trường lớn học ngoại ngữ 2 (tiếng Thái, tiếng Trung Quốc chẳng hạn), Sở cần phối hợp với Hội đồng Anh khảo sát trình độ của GV ngoại ngữ, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ cho họ. Triển khai mạnh mẽ việc dạy và học ngoại ngữ đối với học sinh tiểu học. Để tạo môi trường giao tiếp cho học sinh,  một số trường lớn như Chuyên Lê Quý Đôn, THPT TX Quảng Trị, Đông Hà, … cần tổ chức các câu lạc bộ tiếng Anh, làm nòng cốt để giao lưu với học sinh các trường xung quanh

Tỉnh cần xây dựng quỹ để hỗ trợ học sinh trong việc ra nước ngoài (Thái Lan chẳng hạn) giao lưu với học sinh nước bạn, mời học sinh nước ngoài về giao lưu với học sinh Quảng Trị (quỹ này có sự tài trợ của ngân sách, các doanh nghiệp và của phụ huynh học sinh). Ngoại ngữ chính là tiền đề cho hội nhập và phát triển, vì vậy không chỉ chú trọng đến việc học ngoại ngữ trong trường học. mà cần tạo ra phong trào học ngoại ngữ trong xã hội, chấm dứt tình trạng không học mà chỉ dự thi để lấy chứng chỉ như hiện nay.

Thứ ba, vấn đề phổ cập giáo dục bậc Trung học

Tỉnh cần xây dựng đề án Phổ cập giáo dục Trung học theo hướng Chính quyền và đoàn thể các cấp tham gia nhiều hơn vào công tác phổ cập như huy động học sinh ra lớp (đặc biệt đối với THPT), tham gia vào công tác điều tra, thống kê phổ cập. Ờ Tp Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh phía Nam, chính quyền thực hiện công tác phổ cập từ điều tra, huy động học sinh đi học, ngành giáo dục chỉ tập trung cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Tỉnh cần xây dựng phương án phân luồng sau THCS, mở thêm trường dạy nghể để cho con em sau THCS, sau THPT có nguyện vọng học nghề.

Thứ tư, giải pháp về đội ngũ

Trong hơn 20 năm qua, đội ngũ nhà giáo của Quảng Trị không ngừng lớn mạnh về số lượng, chất lượng và tâm huyết với nghề. Trong điều kiện khó khăn, thiết thốn nhưng hàng ngàn thầy cô đang bám trụ để dạy học ở các trường vùng núi, vùng sâu, vùng khó khăn. Hàng ngàn thầy cô đã tích cực học tập nâng cao trình độ từ trung cấp lên cao đẳng, đại học, hàng trăm người đã học sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). Tuy nhiên, đội ngũ nhà giáo chúng ta vẫn còn những hạn chế, chưa tạo ra sự chuyển biến mạnh về chất lượng giáo dục. Trình độ ngoại ngữ nói chung của giáo viên còn nhiều hạn chế, công tác nghiên cứu khoa học, nhất là phương pháp giảng dạy và giáo dục học sinh còn rất ít. Giáo viên chúng ta hầu như rất ít tham gia viết bài cho các báo, tạp chí của địa phương và trung ương. Một số giáo viên đã có trình độ thạc sĩ nhưng trong giảng dạy chưa thực sự là giáo viên giỏi, để làm nòng cột cho trường học. Chúng tôi xin đề xuất giải pháp như sau: Tăng cường tuyển sinh viên tốt nghiệp khá và giỏi, chẳng hạn, có năm có 10 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi nhưng chỉ tuyển được 6 (do chưa có chỉ tiêu), thì tỉnh nên tuyển hết, nếu chưa có chỉ tiêu thì tạm thời hợp đồng trong biên chế, đến khi có chỉ tiêu thì tuyển chính thức. Đầu tư và hỗ trợ tối đa cho giáo viên trẻ học ngoại ngữ và học lên sau đại học, giáo viên trẻ có năng lực nhưng thu nhập thấp, không đủ điều kiện kinh tế để đi học. Sở GD&ĐT cần có tập san Giáo dục (như nhiều tỉnh, thành) để cán bộ giáo viên có điều kiện tham gia viết bài, tham gia nghiên cứu để tiếp cận với một số hướng đi mới mà các tỉnh, thành phố có điều kiện đang triển khai. Nâng cao đời sống của giáo viên, có chính sách thu hút và đãi ngộ người tài, người thực sự tâm huyết với ngành.

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm định chất lượng giáo dục, đồng thời xây dựng CSDL về chất lượng học sinh toàn tỉnh, triển khai mô hình trường học điện tử.

Phòng Quản lý thi và Kiểm định chất lượng cần xây dựng hệ thống kiểm tra, đánh giá chất lượng theo nhiều tiêu chí khác nhau và công bố công khai cho nhà trường và người dân biết. Tạo ra một phong trào sâu rộng về nhận thức, hành động, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở trong ngành cũng như toàn xã hội. Các đơn vị, trường học tự mình phải xây dựng Văn hóa chất lượng, ”Dạy thật, học thật và thi thật”. Nếu một trường nào đó có kết quả thi tốt nghiệp chẳng hạn khi cao, khi thấp, năm trước tỷ lệ tốt nghiệp trên 95%, rồi năm sau tỷ lệ đó dưới 50%...là những trường chưa xây dựng văn hóa chất lượng.

Chúng ta cần có một cái nhìn hệ thống, liên thông từ Tiểu học lên THCS và THPT. Giáo dục tiểu học là NỀN MÓNG, phải hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp của học sinh ngay từ trường tiểu học, chú trọng đến sức khỏe, năng khiếu, nề nếp, tình yêu với gia đình, bạn bè và thầy cô, rèn luyện trách nhiệm với cá nhân các em; đặt những nền tảng căn bản cho trẻ một cách vững chắc về đọc, viết, tính toán và tìm hiểu về môi trường xung quanh nhẹ nhàng, tự nhiên theo sở thích của trẻ. Ở cấp THCS, cần giúp học sinh phát triển những phẩm chất có được từ tiểu học, làm việc và học tập có phương pháp, có suy luận, hướng học sinh suy nghỉ độc lập, đúng đắn, tránh xu hướng bộc phát, lệch lạc, vì lứa tuổi 11-14 là lứa tuổi có tâm, sinh lý thay đổi rất lớn. Đây là giai đoạn phải tập luyện cho học sinh hoàn thiện các yếu tố căn bản về nhân cách, phương pháp học tập, tư duy độc lập để chuẩn bị tiếp nhận một khối lượng nội dung giáo dục cao hơn, nặng hơn ở cuối chương trình phổ thông. Ở cấp THPT, không còn thời gian để chú trọng nhiều vào nhân cách, phương pháp, năng khiếu và kiến thức cơ bản như các bậc học, cấp học trước đó mà tập trung vào  học tập, rèn luyện  với cường độ, tốc độ và yêu cầu cao hơn.

Trong giai đoạn tới, Sở GD&ĐT cũng như các trường học đẩy mạnh khai thác mạng giáo dục, xây dựng trường học điện tử và chuyển dần các hệ thống quản lý hiện nay sang mô hình cơ sở dữ liệu chung toàn tỉnh, giao diện thông qua Internet. Các nhà trường phải thực sự coi Mạng giáo dục là một cơ hội làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức giảng dạy, học tập và quản lý.

Sau hai mươi năm lập lại  tỉnh, Quảng Trị đã có nhiều thành tựu về phát triển kinh tế xã hội, và trong hành trình đi lên của mình, nhân dân Quảng Trị luôn tự hào về sự phát triển của ngành GD&ĐT tỉnh nhà. Đội ngũ các thầy, cô giáo chính là những người tiếp nối, thắp sáng ngọn lửa quật cường, truyền thống hiếu học của người dân Quảng Trị. Với sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, chúng ta tin tưởng Ngành Giáo dục tỉnh nhà sẽ đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đaị hóa, đưa Quảng Trị trở thành một tỉnh văn minh, giàu mạnh, hội nhập với khu vực và thế giới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Sở GD&ĐT Quảng Trị (2001), Lịch sử Giáo dục Quảng Trị, NXB Thuận Hóa, 2001

[2] Ths Hoàng Đức Thắm (2010), Tham luận đại hội tỉnh Đảng bộ Quảng Trị lần thứ XIV năm 2010.

[3] ThS Hoàng Đức Thắm (2010), Phát huy truyền thống tốt đẹp của giáo giới Việt Nam, đội ngũ nhà giáo Quảng Trị nỗ lực, sáng tạo chăm lo phát triển sự nghiệp trồng người, bài viết nhân ngày ngày Nhà giáo Việt Nam năm 2010.

[4] GSVS Nguyễn Cảnh Toàn (2010), Tuyển sinh đại học như thế nào là tối ưu, Tạp chí Trí tuệ số 55, 56 năm 2010.

[5] ThS Huỳnh Công Minh (2005), Giải pháp nâng cao chất lượng giáo  dục phổ thông Tp Hồ Chí Minh, trả lời phóng vấn Báo Người lao động nhân dịp đầu năm 2005.

[6] ThS Hồ Sỹ Anh (2010), Nhìn lại 5 năm xét tốt nghiệp và tuyển sinh THPT tỉnh Quảng Trị, Website ier.edu.vn, năm 2010.

Tin xem nhiều nhất
DANH MỤC THƯ VIỆN
QLHS 13_01_2014
Gửi phiên bản QLHS ngày 10_01_2014
QLHS_Suadoi_bieuHSG
Bộ cài đặt QLHS mới
INF 2013
QLHS 28_05_2013
QLHS 26_05_2013
Bộ cài đặt QLHS ngày 12_01_2013
QLHS 10_01_2013
QLHS 09_01_2013
LIÊN KẾT NHANH

Bản quyền thuộc Nhóm Edulink
Thiết kế- xây dựng: Nguyễn Phong - Hồ Sỹ Anh, Tel:0905609111 - 0903507392 -0935205737
Email: admin@edulink.edu.vn